Nợ công nguy cơ lên tới gần 100% GDP

Posted by Unknown on Thứ Tư, 30 tháng 4, 2014 |

Tiến sĩ Trần Đình Thiên - Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam cho rằng nguy cơ lớn nhất không nằm ở con số mà ở quan điểm sai về nợ công. Hiện nay nợ công của Việt Nam không bao gồm nợ được Chính phủ bảo lãnh, nợ đọng xây dựng cơ bản. Cách tính này theo ông Thiên không cho phép đánh giá đúng nguy cơ thực tế.


"Nếu tính đủ, nợ công phải lên tới gần 100% GDP. Tỷ lệ an toàn theo báo cáo hiện nay là 55,7% và 'theo quy định'. Điều này chứa đựng nguy cơ ảo tưởng về mức độ an toàn của sự rủi ro", ông Thiên cho biết.

Theo Viện trưởng Trần Đình Thiên, điều đáng lo lắng là tốc độ nợ tăng nhanh hơn rất nhiều so với GDP nhưng việc đi vay chủ yếu để trả nợ chứ không phải cho sản xuất. Chưa kể, trong cơ cấu, nợ ngắn hạn rất nhiều, khi nền kinh tế suy yếu thì khả năng trả nợ cũng bị ảnh hưởng. "Đồ thị của chúng tôi cho thấy tăng năm nay nghĩa vụ trả nợ là 208.000 tỷ đồng, vượt 26,7% thu ngân sách năm 2014. Mức này đã vượt qua vạch đỏ (25%) và sẽ chiếm tỷ lệ 30% thu ngân sách vào những năm tiếp theo", ông Thiên lo lắng.

Tiến sĩ Lê Đăng Doanh chia sẻ: "Với tốc độ hiện nay, một thời gian ngắn nữa sẽ không đối phó được với nợ công. Cần phải xem lại ngân sách, việc thu hiện nay không đủ cho chi thường xuyên của bộ máy".

Theo: VNE

Viết tặng cho các bạn trẻ Việt Nam

Posted by Unknown on |

PHẦN I: CHÚNG TA Ở VỊ TRÍ NÀO SO VỚI THẾ GIỚI BÊN NGOÀI?



1. Nhật Bản: từ trên đống tro tàn của kẻ chiến bại nhục nhã trong Thế chiến thứ Hai, đất nước không còn gì ngoài những miệng núi lửa và đống hoang tàn đổ nát sau chiến tranh trở thành cường quốc kinh tế thứ 2 trên thế giới; 

2. Hàn Quốc: vượt lên nỗi đau chia cắt, đến những năm 70 của thế kỷ trước còn được biết đến là 1 đất nước nghèo nàn lạc hậu với nền nông nghiệp lạc hậu và nền thương mại đơn thuần thì nay trở thành một trong 12 nền kinh tế lớn thuộc nhóm OECD; là nền kinh tế lớn thứ 4 ở châu Á và thứ 15 trên thế giới;

3. Vùng tô nhượng Hồng Kông, vùng lãnh thổ Đài Loan những năm 50, 70 của thế kỷ trước được xem là vũng lầy của thế giới thì nay vũng lầy đó như những con rồng cất cánh; mức sống và thu nhập người dân được xếp top các quốc gia thịnh vượng;

4. Singapore: quốc đảo sư tử với diện tích chỉ bằng huyện Cần Giờ, không đủ cho một vòng lượn máy bay, nước ngọt phải nhập khẩu, dân số dăm triệu người lại trở thành một nền kinh tế năng động và giàu sức cạnh tranh bậc nhất thế giới;

5. Và Việt Nam : Người VN cần cù, thông minh, chịu khó, ham học hỏi,...giàu tài nguyên, rừng vàng, biển bạc, đất đai phù nhiêu... nhưng chúng ta vẫn nghèo, được đánh giá là "nước khó phát triển", hàng năm vẫn nuốt nhục vào trong ngửa tay đi xin từng đồng vốn viện trợ ODA, NGO....

6. Tại sao đi từ Nam ra Bắc đất nước chúng ta không có một công trình nào như Chùa Vàng ở Mianma, Hoàng cung của Thái Lan, Angkor wat của Campuchia, thành phố gọn gàng ngăn nắp như Viêng Chăn của Lào? (Không dám ví với Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản chứ chưa nói đến các công trình lớn ở Tây Âu vì sẽ bị nói là khập khiễng) 


PHẦN II: NHÌN RA THẾ GIỚI 


- Chúng ta thường tự hào đất nước ta có rừng vàng và biển bạc; giờ rừng đã tàn mà biển cũng kiệt. 

- Chúng ta vẫn nói dân tộc ta rất cần cù và thông minh nhưng thế giới đánh giá lực lượng lao động của chúng ta không được đào tạo bài bản, thiếu trình độ chuyên môn, nghiệp vụ.

- Chúng ta tự hào có đội ngũ GS, TS, Thạc sĩ, cử nhân hùng hậu nhưng thực tế là vẫn đốt đuốc tìm lao động chuyên gia trong khi nền kinh tế sản xuất vẫn là nhân công giá rẻ, miệt mài với gia công phụ thuộc; Việt Nam được xếp vào hạng xuất khẩu lao động tay chân hàng đầu thế giới.

- Hiện nay, chúng ta phấn khởi vì tốc độ phát triển kinh tế hằng năm tăng trưởng nhanh, tăng trung bình xấp xỉ 6 - 10 % mỗi năm. Đó là điều đáng mừng. Nhưng thử hỏi 8% hay 10% là thực tăng được thêm bao nhiêu tỉ USD mỗi năm, trong khi GDP bình quân đầu người của chúng ta mới đạt hơn 1000 USD/người, xếp vào ngưỡng nghèo đói của thế giới.

- Chúng ta tự hào vì có được một trang sử hào hùng, vẻ vang chói lọi, nhưng thế giới không dựa vào đó để đánh giá vị thế chúng ta trên đấu trường quốc tế.


PHẦN III: HÃY LUÔN ĐẶT CÂU HỎI TẠI SAO!?


- Có bao giờ các bạn tự đặt câu hỏi cho chính mình: Hãy thôi/bớt tự hào chúng ta đánh thắng oanh liệt 2 đế quốc lớn, mà hãy cúi mặt biết xấu hổ khi chúng ta còn lẹt đẹt là 1 nước nghèo khó phát triển, bởi chúng ta thắng ở lịch sử nhưng thua trên đấu trường kinh tế.

- Có bao giờ chúng ta cảm thấy quá tự hào vì quá khứ mà ngủ quên rằng hiện tại chúng ta đang ở đâu. Chúng ta đừng lấy quá khứ để lấp liếm cho hiện tại, bởi nó không giúp ích đc gì cả và thay vì lấy quá khứ lấp liếm bào chữa cho hiện tại hãy chấp nhận thực tại mình đang ở đâu, và tìm lối thoát cho mình.

- Có bao giờ chúng ta tự hỏi vì sao chúng ta nghèo như vậy không? Sao lại không phát triển được như vậy không?

- Có bao giờ các bạn đặt câu hỏi tại sao: nhiều nước có xuất phát điểm giống nhau nhưng sau một thời gian thì người ta bứt phá lên được còn nước mình lại rơi vào trạng thái tuy có phát triển nhưng không có sự bứt phá - hay vẫn cứ nghèo nàn lạc hậu hay không!? (Có thể so sánh với Hàn Quốc về tương quan lịch sử, nền kinh tế...).

- Có bao giờ các bạn tự hỏi - Tại sao muốn xây một công trình lớn thì phải qua hàng chục cửa quan hành hẹ đủ kiểu của các cơ quan công quyền?

- Tại sao người Việt cứ làm việc nhóm với nhau thì y như rằng luôn nói xấu, chê bai, dìm hàng nhau, thích trù dập nhau, dẫm đạp lên nhau để không ai hơn nổi mình, không ai dám ra quyết định, dám làm, vì cứ quyết một cái thì một nhóm xúm vào bới móc?

- Tại sao có nhiều thứ không công bằng, bẩn thỉu, cơ hội và đê tiện bỉ ổi như vậy mà vẫn được gọi là văn minh là hiện thân của đạo đức chuẩn mực?

- Tại sao giữa 1 đất nước như vậy, tin tức được đọc nhiều nhất lại là: sốc-sếch-sến, hiếp dâm, cướp giật, lộ hàng, giết người? 

- Tại sao trước những nổi đau, bất công như vậy mà chúng ta lại thản nhiên thờ ơ và mặc nhiên không quan tâm, cay đắng hơn là không thể bật khóc trước nỗi nhục của đất nước!?


PHẦN IV: VÌ SAO CHÚNG TA NGHÈO


Muốn hiểu sâu vấn đề này và có câu trả lời thoả đáng, mời đọc thêm về thuyết "Nguồn lực xã hội" (GS Trần Văn Thọ; giáo sư kinh tế tại trường Đại học Waseda, Tokyo, Nhật Bản; từng là thành viên chuyên môn trong Hội đồng Tư vấn Kinh tế của Thủ tướng Nhật; sáng lập viên và giám đốc điều hành Trung tâm kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (VAPEC)...) Cốt lõi vấn đề ở đây không phải là các nguồn lực bên ngoài, quan trọng nhất chính là yếu tố Con Người (giải quyết tốt 3 vấn đề sau thì một quốc gia sẽ tiến rất nhanh dù họ chẳng có tài nguyên gì: Lãnh đạo - Trí thức - Cơ chế). Bây giờ là thời đại của nền kinh tế Tri Thức chứ không phải chỉ dựa vào tài nguyên, sức lao động... Cứ nhìn Microsoft, Nokia, Docomo, Samsung, Apple... thì biết.

Theo DĐSVVN

Nếu Việt Nam Cộng Hòa chiến thắng?

Posted by Unknown on |

Mỗi dịp 30-4 hàng năm, tôi lại nhận được câu hỏi của những người đồng bào Việt Nam ở hải ngoại là “anh nghĩ và có cảm xúc gì khi sắp tới ngày 30-4?”. Tôi lại có dịp kể cho họ nghe về suy nghĩ và cảm xúc của mình. 

Từ nhỏ cho đến năm mười chín tuổi, mỗi dịp 30-4 tôi thực sự vui mừng và tự hào bởi đó là ngày chiến thắng và thống nhất của đất nước. Việt Nam đã chiến thắng cường quốc số một thế giới về quân sự và kinh tế.


Cuối năm 1989, tôi có cơ hội được sang CHDC Đức (cũ) và được chứng kiến người dân Đông Đức lật đổ chế độ cộng sản để thống nhất với chế độ tư bản, dân chủ ở Tây Đức. Tôi lại có dịp may mắn được sang Tây Berlin để xem cuộc sống sung túc và tự do của chế độ tư bản, dân chủ. Và tôi hiểu tại sao người dân Đông Đức đã không cam chịu sống dưới sự cai trị độc đoán, phi lý, lạc hậu của chế độ cộng sản.
Cùng thời điểm đó, tất cả người dân các nước Đông Âu đã vùng lên đập tan sự cai trị của các chế độ cộng sản. Và họ đã xây dựng lại từ đầu chế độ tư bản, dân chủ. Cho đến nay, tất cả các nước Đông Âu, người dân đều có cuộc sống sung túc và hạnh phúc trong một chế độ chính trị tự do và dân chủ mà không có sự cai trị của chế độ cộng sản.

Hoài nghi, nuối tiếc

Cuối năm 1990, tôi trở lại Việt Nam, kể từ đó cứ mỗi dịp 30-4, tôi không còn cảm xúc vui mừng, mà thay vào đó là sự hoài nghi và nuối tiếc.
"Nếu ngày 30-4-1975, bên chiến thắng là Việt Nam Cộng Hòa thì giờ đây trong khu vực châu Á, Việt Nam có thể chỉ thua duy nhất Nhật Bản về kinh tế, còn chắc chắn sẽ ngang bằng hoặc hơn Hàn Quốc về cả kinh tế và quân sự."



Năm 2001 và 2003, tôi có dịp được sang thăm Hàn Quốc và thấy đó là một quốc gia hùng mạnh về kinh tế và quân sự. Ở đó không bao giờ có sự hiện diện và tồn tại của đảng cộng sản. Trong khi đó, Bắc Triều Tiên dưới sự cai trị độc đoán và tàn bạo của chế độ cộng sản. Mỗi năm có cả trăm ngàn người chết đói mặc dù họ đã nhận được sự giúp đỡ to lớn từ Hàn Quốc và cộng đồng quốc tế. Tôi cảm thấy buồn và nối tiếc cho chế độ Việt Nam Cộng Hòa.

Nhìn lại Việt Nam chúng ta, sau ngày 30-4-1975, trong chế độ quan liêu bao cấp, ngăn sông cấm chợ, nhân dân phải chịu đói khổ, lầm than. Khi tiến hành công cuộc đổi mới, kinh tế có phát triển, đời sống người dân khấm khá hơn, đủ ăn, đủ mặc, có được phương tiện sinh hoạt và đi lại hiện đại. Nhưng tham nhũng đã trở thành quốc nạn, thành giặc nội xâm của dân tộc. Sự suy thoái đạo đức và lối sống diễn ra một cách toàn diện, trên mọi phương diện của đời sống xã hội từ giáo dục, y tế, ngành tư pháp, cơ quan hành chính,... và trên mọi cấp độ từ trung ương đến địa phương.
Nhiều người trong chúng ta đã từng chứng kiến cảnh doanh nghiệp, quan chức chính quyền, các lực lượng vũ trang và xã hội đen hợp sức với nhau để cưỡng chế người nông dân lấy đi tư liệu sản xuất quan trọng nhất của họ là ruộng đất. Biết bao người dân vô tội khi bước vào đồn công an thì khỏe mạnh, nhưng chỉ ít giờ sau, họ chỉ còn là một cái xác không hồn. Và còn biết bao nhiêu những người dũng cảm đứng lên đấu tranh đòi quyền tự do, dân chủ đã bị sách nhiễu, đánh đập, và bị cầm tù. Thật sự đau lòng và xót xa.



Giờ đây, mọi người lại hỏi tôi “anh nghĩ và có cảm xúc như thế nào về ngày 30-4?”
Tôi trả lời: Một chế độ dân chủ và văn minh đã thua một chế độ độc đảng toàn trị và lạc hậu. Cái ác đã chiến thắng. Còn cảm xúc thì buồn và nuối tiếc cho chế độ Việt Nam Cộng Hòa, bởi tôi và rất nhiều người đều cho rằng nếu ngày 30-4-1975, bên chiến thắng là Việt Nam Cộng Hòa thì giờ đây trong khu vực châu Á, Việt Nam có thể chỉ thua duy nhất Nhật Bản về kinh tế, còn chắc chắn sẽ ngang bằng hoặc hơn Hàn Quốc về cả kinh tế và quân sự.

LS Nguyễn Văn Đài

“Đã đến lúc thừa nhận xã hội dân sự”

Posted by Unknown on |

“Tôi nghĩ, đã đến lúc thừa nhận xã hội dân sự. Bản chất của nhà nước mang tính quan liêu, và để khắc phục quan liêu thì cần phát huy vai trò của xã hội dân sự”.

Rất ngắn gọn, song ý kiến phát biểu của nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mại Trương Đình Tuyển nhận được nhiều tiếng vỗ tay hưởng ứng tại ngày làm việc thứ hai (29/4) của Diễn đàn Kinh tế Mùa xuân 2014, diễn ra tại Hạ Long (Quảng Ninh), với nội dung chính là bàn thảo về cải cách thể chế.



Theo ông Tuyển, thể chế kinh tế thị trường hiện đại phải bao gồm thị trường, nhà nước và xã hội dân sự.

“Hiện nay ta đang cấm kỵ dùng cụm từ xã hội dân sự, tôi đồ rằng chúng ta kỵ cụm từ này cũng như từng kỵ thể chế kinh tế thị trường vì coi đó là cấu trúc kinh tế của kinh tế tư bản. Và bây giờ mình đang coi xã hội dân sự là sản phẩm của nền chính trị tư sản. Đã đến lúc phải thấy xã hội dân sự là sản phẩm của sự phát triển dân chủ, mà sự phát triển dân chủ có tính quy luật”, ông Tuyển nói.

Vẫn theo nguyên Bộ trưởng, thông điệp đầu năm 2014 của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng đã đề cập dân chủ là xu thế khách quan trong sự phát triển của loài người. Mà đã thừa nhận là xu thế khách quan thì phải mở rộng dân chủ và đương nhiên phải tôn trọng vai trò của xã hội dân sự.

“Nếu xã hội dân sự có thể tham gia xây dựng chính sách, phản biện chính sách và giám sát quá trình thực hiện thì nó sẽ hỗ trợ khắc phục những hạn chế của thị trường và sự quan liêu của nhà nước”, ông Tuyển khẳng định sự cần thiết thừa nhận xã hội dân sự.

Kiến nghị các giải pháp đẩy nhanh cải cách thể chế, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương Lê Xuân Bá đề nghị nhanh chóng ban hành luật về biểu tình và ban hành luật về xã hội dân sự, bởi theo ông, đó là quyền của dân, không có gì phải e ngại.

Cũng đề cập đến vai trò của xã hội dân sự trong phát biểu của ông Tuyển, chuyên gia Phạm Chi Lan đề nghị Quốc hội cần có cơ chế để lắng nghe tiếng nói thực sự của dân.

“Đại biểu tiếp xúc cử tri còn hình thức lắm, tôi 72 tuổi mà chưa một lần được đi tiếp xúc với đại biểu tôi bầu với tư cách là cử tri bình thường. Trong số các vị do chính mình bầu ra đến nay tôi cũng chỉ nhớ tên một vị, còn các vị khác hoàn toàn không nhớ gì cả”, bà Lan nói.

Bên lề Diễn đàn, một số ý kiến cũng bày tỏ đồng tình với quan điểm của ông Trương Đình Tuyển. 

Chuyên gia Lê Đăng Doanh cho rằng xã hội dân sự Việt Nam đã phát triển và cần phải chấp nhận nó. Các tổ chức xã hội cần được trao quyền tham gia xây dựng, phản biện, giám sát thực thi chính sách và cho họ cả cái quyền được tham gia tố tụng tại tòa án. “Nếu được trao quyền và có khung khổ pháp luật thì tự họ phải hoạt động nghiêm túc”, ông Doanh nhìn nhận.

Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng, một xã hội kém phát triển như Việt Nam thì sự tham gia của xã hội dân sự vào cải cách thể chế là chưa thực sự phù hợp.
Theo http://vneconomy.vn/

RSF vinh danh 3 nhà báo tự do Việt Nam

Posted by Unknown on |

Tổ chức Phóng viên Không biên giới (RSF) hôm nay 29/04/2014 công bố danh sách « 100 anh hùng thông tin » nhân Ngày Tự do Báo chí Thế giới 2014. Trong danh sách này có ba nhà báo, blogger Việt Nam là Phạm Chí Dũng, Trương Duy Nhất và linh mục Antôn Lê Ngọc Thanh.




Danh sách này gồm các nhà báo và blogger từ 25 đến 75 tuổi thuộc 65 quốc tịch khác nhau. Người trẻ tuổi nhất là phóng viên ảnh Oudom Tat của Cam Bốt, và người lớn tuổi nhất là nhà báo Pakistan Muhammed Ziauddin. Châu Á- Thái Bình Dương có 25 nhà báo được vinh danh, trong khi châu Âu chỉ có 8 người. Các quốc gia có từ ba « anh hùng thông tin » trở lên là Việt Nam, Trung Quốc, Nga, Iran, Azerbaijan, Mêhicô và Eritrea.
Tại Việt Nam, có nhà báo tự do Phạm Chí Dũng, người đã từ bỏ đảng để dành tâm trí cho những bài viết phản biện với chính quyền. Từng là sĩ quan quân đội, Phạm Chí Dũng có thời gian làm trợ lý cho ông Trương Tấn Sang – người đến năm 2011 trở thành Chủ tịch nước. Nhà báo Phạm Chí Dũng có các công trình nghiên cứu về chính sách an ninh chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế và tôn giáo.


Các bài báo tố cáo tham nhũng và yếu kém của chính quyền khiến ông bị bắt vào tháng 7/2012 vì các tội danh « âm mưu lật đổ chính quyền » và « tuyên truyền chống nhà nước ». Được đình chỉ điều tra, ông ra tù 7 tháng sau đó. Nhưng bằng tiến sĩ kinh tế, 11 tác phẩm đã xuất bản cùng với vô số bài viết trên các đài phát thanh quốc tế trong đó có RFI của ông vẫn không ngăn trở được việc ông bị tịch thu hộ chiếu vào tháng 2/2014 lúc chuẩn bị đi Genève tham dự một hội nghị về nhân quyền với vai trò diễn giả.
Bên cạnh đó là blogger Trương Duy Nhất, đã bỏ nghề báo để viết blog « Một góc nhìn khác ». Trong ba năm, ông đã đăng trên 1.000 bài trên mạng, trong đó có những bài do chính ông viết. Sau bốn lần được lệnh đóng blog, tháng 5/2013 Trương Duy Nhất bị bắt và bị kết án hai năm tù vì 12 bài báo.


Người thứ ba là linh mục Antôn Lê Ngọc Thanh, làm việc cho Truyền thông Chúa Cứu Thế từ thập niên 90. Năm 2012 ông bị câu lưu nhiều tiếng đồng hồ khi đi Bạc Liêu dự đám giỗ 49 ngày bà Đặng Thị Kim Liêng - mẹ blogger Tạ Phong Tần đã tự thiêu phản đối bản án dành cho con bà. Năm 2013 ông lại bị câu lưu lần nữa trong một cuộc biểu tình ủng hộ blogger Đinh Nhật Uy, và hiện vẫn đang bị công an theo dõi thường xuyên.

Theo FFI

Câu cá ngay trên nắp cống giữa đường phố Sài Gòn

Posted by Unknown on Thứ Ba, 29 tháng 4, 2014 |

Người dân ngồi câu cá ngay trên nắp hộp cống, giữa con đường rất đông xe qua lại. Mỗi ngày họ có thể thu hoạch được tới 3 kg "chiến lợi phẩm.

Anh Nguyễn Văn Bảy ngồi câu cá ở nắp cống hộp ngay đoạn giao nhau giữa Ngô Văn Sở và Nguyễn Tất Thành, bất chấp sự nguy hiểm

Thời gian gần đây, nhiều người dân tập trung câu cá ngay trên nắp cống hộp trên đoạn đường Nguyễn Tất Thành, phường 13, quận 4. Mỗi khi nước sông Sài Gòn dâng lên, những người này đem cần ra ngồi ngay trên nắp cống, bất chấp đây là đoạn đường mật độ xe cộ lưu thông dày đặc. Việc ngồi câu cá giữa đường không chỉ cản trở giao thông nơi đây mà còn gây nguy hiểm tính mạng cho cả người đi đường và những người ngồi câu cá. Đại diện UBND phường 13 cho biết, phường chưa nghe báo cáo về hiện tượng này, có thể người dân câu cá để giải trí. Tuy nhiên theo thông tin báo cung cấp, thời gian tới phường sẽ xuống kiểm tra nhắc nhở để người dân chấm dứt việc làm nguy hiểm trên.
Mồi câu cá chủ yếu là những con tép nhỏ, mỗi ngày người thanh niên có thể câu từ 2-3 kg cá

Ưu việt của giáo dục tại Miền Nam

Posted by Unknown on |

Nhân kỷ niệm 30-4-1975, xin được chân thành cảm tạ những nhà giáo dục miền Nam, những thầy cô đã dìu dắt tôi trở thành một người hữu ích phục vụ gia đình và xã hội.
Được BBC phỏng vấn Giáo sư Tiến sĩ Trần Ngọc Vương Đại học Quốc gia Hà Nội cho biết: “Giáo dục xưa nay là một trong những lĩnh vực chịu sự chi phối của chính trị. Thực ra nền giáo dục nào, ở đâu cũng là vậy thôi. Chính trị vẫn cứ đặt ra những mục tiêu, những đích đến và đòi hỏi mọi nền giáo dục phải phục vụ cho nó.”


Ông Trần Ngọc Vương nhận xét: “Nền giáo dục của miền Nam từ năm 1954 đến năm 1975 có những thành tựu rất quan trọng và cần được tổng kết một cách thực sự nghiêm túc” 
Ông Vương cho biết: “Tôi cũng có quen biết những trí thức được trưởng thành trong giai đoạn đó. Một số khá đông trong lứa tuổi của tôi lẫn lớn hơn một chút từ miền Nam cũng là sản phẩm của nền giáo dục của miền Nam cũ, nhiều người trong số họ rất xuất sắc.”
Mặc dù ông Vương đã nhìn nhận kết quả của nền giáo dục tại miền Nam, nhưng có thể ông chưa nhận ra chính sự độc lập giữa giáo dục và chính trị tại miền Nam là nhân tố tạo ra kết quả này. 

Căn Bản Nền Giáo Dục Miền Nam
Vào năm 1958, một Đại hội Giáo dục quy tụ phụ huynh, thân hào nhân sĩ, học giả, đại diện quân đội, chính quyền, các tổ chức quần chúng và cơ quan văn hóa giáo dục đã được tổ chức tại Sài Gòn nhằm đề ra một triết lý giáo dục cho miền Nam. Đại Hội đồng thuận chọn ba nguyên tắc dân tộc, khai phóng và nhân bản làm căn bản. 
Đến thời Đệ Nhị Cộng Hòa, năm 1964, một Đại Hội khác lại được tổ chức tại Sài Gòn nhằm xem xét lại triết lý nói trên. Kết quả Đại Hội tiếp tục nhìn nhận ba nguyên tắc. 
Đây là một bằng chứng cụ thể, mục tiêu chiến lược và những đích đến của nền giáo dục tại miền Nam là một quyết định dân chủ hòan tòan độc lập với chính trị. Có chăng chính quyền chỉ chính danh đứng ra triệu tập và tổ chức các Đại Hội về Giáo Dục. 



Giáo Dục là công việc chuyên môn của những người làm giáo dục
Về mặt quản lý, chính quyền miền Nam đề ra những chính sách và quyết định việc chi tiêu nhằm thực hiện những mục tiêu cả ngắn hạn lẫn dài hạn. Tuy nhiên việc giáo dục từ điều hành, đến soạn thảo chương trình và giảng dạy là công việc chuyên môn của những người làm giáo dục.
Tại miền Nam nhiều bộ trưởng hay tổng trưởng giáo dục được bổ nhiệm là những người xuất thân từ ngành giáo dục.
Trong Bộ Giáo dục ngoài trừ một số chức vụ có tính chất chính trị như đổng lý văn phòng, bí thư… các chức vụ khác đều do những nhà giáo dục có chuyên môn đảm trách. 
Giáo sư Nguyễn Thanh Liêm cựu Thứ Trưởng Bộ Văn Hóa Giáo Dục và Thanh Niên Việt Nam Cộng Hòa nhận xét những người làm giáo dục tại miền Nam đều am hiểu công việc chuyên môn, có kinh nghiệm, giàu tâm huyết, và xem chính trị chỉ là nhất thời, tương lai của dân tộc mới trọng đại. 
Ông Liêm cho biết “những gì thuộc phạm vi chính trị nhất thời đều phải ngưng lại trước ngưỡng cửa học đường.”
Trong các cơ quan lập pháp, những người đứng đầu các ủy ban hay tiểu ban giáo dục của Thượng viện và Hạ viện đều là những nghị sĩ dân biểu xuất thân từ nhà giáo. 
Riêng trong lĩnh vực giáo dục đại học, Điều 10 của Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa (1967) nêu rõ: Nền giáo dục đại học được tự trị. Bộ Giáo dục có một thứ trưởng đặc trách giáo dục đại học nhưng công việc của vị này chủ yếu là lo thực thi những chính sách về giáo dục đại học. 
Về học vụ và điều hành, các cơ sở giáo dục đại học được tự trị. Các hội đồng ở cấp viện đại học và cấp trường đại học (hay phân khoa) có quyền thảo luận và quyết định mà không phải trình báo hay xin chỉ thị từ bất cứ ai. Các khoa trưởng của các trường phân khoa không do Bộ Giáo dục bổ nhiệm mà do các giáo sư của Hội đồng Khoa bầu lên.

Giáo dục nhân bản lấy con người làm gốc
Triết lý nhân bản mà miền Nam chọn làm căn bản cho giáo dục lấy con người làm gốc, lấy cuộc sống của con người làm căn bản, không xem con người như một phương tiện hay công cụ phục vụ cho mục tiêu của bất cứ cá nhân, đảng hay tổ chức nào.
Triết lý nhân bản chấp nhận sự khác biệt giữa các cá nhân nhưng không chấp nhận dùng sự khác biệt đó để đánh giá con người, và không chấp nhận sự kỳ thị hay phân biệt tư tưởng chính trị, giàu nghèo, địa phương, tôn giáo, chủng tộc… con người có giá trị như nhau, và mọi người đều có quyền được hưởng những cơ hội đồng đều về giáo dục.
Nói rõ hơn nền giáo dục miền Nam lấy quyền con người, quyền dân sự và lấy với bản Tuyên Ngôn Quốc Tế nhân quyền làm nền tảng để xây dựng con người.
Chính vì dựa trên nền tảng nhân bản nên không có vấn đề lý lịch trong học đường miền Nam. Ngay cả con em của cán bộ cộng sản tập kết ra Bắc, những người miền Nam công khai theo cộng sản đều được đối xử bình đẳng như mọi học sinh sinh viên trong học đường miền Nam.
Một số trường Quốc gia nghĩa tử được lập ra để trợ giúp việc giáo dục cho học sinh có cha mẹ là quân nhân đã hi sinh bảo vệ miền Nam. Một số trừơng do tư nhân, do các tôn giáo hay do các cộng đồng sắc tộc điều hành. Nhưng tất cả các trường đều theo nguyên tắc cơ bản và chương trình giảng dạy chung.

Công Dân Giáo Dục
Dựa trên nền tảng nhân bản học sinh miền Nam từ lớp mẫu giáo đến hết bậc Trung Học đều được dạy môn Công Dân Giáo Dục. Ở bậc tiểu học học sinh được dạy về quyền và bổn phận của một công dân. 
Lên Trung Học Đệ Nhất Cấp chúng tôi được học những bài học về: cá nhân và gia đình, tổ chức ở học đường, bổn phận của học sinh, đời sống xã hội và tôn giáo, quyền và bổn phận một công dân. 
Bước sang Đệ Nhị Cấp nhà trường tiếp tục giáo dục về Quốc Gia (dân tộc, lãnh thổ, chánh phủ, hiến pháp, lập pháp, hành pháp, tư pháp), Liên Hiệp Quốc (tổ chức, UNESCO, các tổ chức khác), Phong Tục, Kinh Tế (các lý thuyết, sản xuất, thương mại, tiền tệ, ngân hàng), Chính Trị (dân chủ, chính đảng, chính thể, độc tài, phát xít, cộng sản).
Từ bậc Trung Học chúng tôi đã được thực hành dân chủ qua việc bình bầu Ban Điều Hành lớp. Việc chọn lựa từ Trưởng lớp cho đến các Trưởng ban do quyết định của học sinh, quyết định hòan tòan độc lập với nhà trường và chính quyền.
Mặc dù giáo dục độc lập với chính trị chúng tôi được dạy và thực hành cơ bản chính trị dân chủ để khi cần sẵn sàng tham gia việc quản trị đất nước. 
Độc lập vì thế không có nghĩa là “phi” chính trị mà là không bị phụ thuộc vào các đảng chính trị, đảng cầm quyền hay chính quyền. 
Học đường miền Nam giáo dục học sinh trở thành những công dân với ý thức chính trị và ý thức dân chủ sẵn sàng đóng góp cho gia đình, đất nước và nhân lọai.
Ngược lại nền giáo dục tòan trị tại miền Bắc trước 30-4-1975 và tòan quốc sau này dựa trên căn bản giáo dục là một công cụ nhằm duy trì và phục vụ thể chế chính trị cộng sản. Nó chính là nguyên nhân đưa đến khủng hỏang giáo dục, khủng hỏang xã hội. 
Bài viết “Giáo dục Việt Nam: cố sửa hay trở về gốc?” dẫn đến kết luận muốn vượt qua tình trạng khủng hoảng xã hội hiện nay, Việt Nam cần quay lại với triết lý giáo dục lấy dân tộc, khai phóng và nhân bản làm căn bản, và lẽ đương nhiên giáo dục cần độc lập với chính trị.
Nguyễn Quang Duy
Melbourne Úc Đại Lợi 
25-4-2014

Subscription

You can subscribe by e-mail to receive news updates and breaking stories.

Most Popular

Recent News

Archives